Xu Hướng 3/2023 # Bộ Lọc Filter Other Trong Photoshop (Phần 1: Custom Và High Pass) # Top 10 View | Utly.edu.vn

Xu Hướng 3/2023 # Bộ Lọc Filter Other Trong Photoshop (Phần 1: Custom Và High Pass) # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Bộ Lọc Filter Other Trong Photoshop (Phần 1: Custom Và High Pass) được cập nhật mới nhất trên website Utly.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đây là nhóm bộ lọc khiến tôi phải vận động chất xám nhiều nhất. Chúng ta cùng đi vào phân tích!

Cơ chế hoạt động: hình ảnh được (giả lập) phân chia thành 25 ô (tôi gọi là khu vực “ma trận”) như trong cửa sổ tùy chọn. Nếu muốn vùng nào đó trên hình ảnh sáng hơn thì điền tại ô đó 1 con số dương, muốn vùng đó tối hơn thì điền 1 con số âm. Con số sử dụng trong khoảng từ -999 đến 999, hiệu ứng phản sáng rất mạnh nên hầu như ta chỉ sử dụng trong khoảng -50 đến 50.

Những ô liền kề nhau, thuộc những mảng màu gần gần giống nhau (tương đồng sắc độ) thì độ chính xác của những ô số sẽ không cao. Chúng ta không cần phải điền số vào hết tất cả các ô. Với thông số trên ta được kết quả:

Và kết quả của nó:

Ma trận các ô số như vậy có thể sẽ khiến các designer (những người chỉ quen làm việc với hình ảnh) sẽ cảm thấy có chút ngại, nhỉ?! Nhưng sẽ thật thú vị khi mỗi lần thay đổi các con số thì lại cho ra kết quả khác, đừng lo lắng, dù thế nào thì cũng không nằm ngoài những quy luật Homasg đã nói trên.

Tiếp theo, tôi sẽ cho bạn biết vì sao chỉ cần sử dụng trong khoảng -50 đến 50. Vì kết quả sẽ rất kinh khủng nếu bạn chỉ lo tăng/giảm những thông số trên ma trận mà bỏ qua 2 đặc tính vô cùng quan trọng này:

Scale: độ tản sáng của các điểm ảnh. Scale dao động từ 1 đến 9999. Khi Scale = 1, các điểm ảnh sẽ ở mức sáng cực đại của thông số đã nhập vào ma trận. Bởi vậy khi ma trận chứa những con số càng lớn thì hình ảnh bị cháy sáng càng gắt, bị vỡ hạt, thậm chí các nét trong hình bị lệch biên. Khi tăng Scale = 2, độ sáng của các điểm ảnh được chia đôi, cứ thế, càng tăng scale thì độ sáng càng giảm theo hệ nhị phân.

Offset: độ bù màu cho Scale. Nếu Scale chỉ nhắm vào việc khuếch trương độ sáng cho những điểm ảnh tại những vùng được điền số trong ma trận, thì Offset sẽ giữ lại màu sắc của hình ảnh và tán sáng đều ra cho toàn hình ảnh. Offset hiệu quả hơn khi thông số lớn hơn Scale trong khoảng từ 1 đến 40 đơn vị. Vượt ngoài khoảng này, hình ảnh sẽ bị mờ hoặc mất màu.

Điều tuyệt vời của bộ lọc Custom này là hình ảnh trông sẽ nét hơn khi bạn áp dụng hài hòa những thông số trong ma trận, Scale và Offset. Ngoài ra, Custom còn cho phép Save lại tùy chỉnh như 1 dạng mẫu để những lần sau có thể Load lên dùng tiếp.

Thông số Radius (đơn vị tính: pixels): biểu thị độ (đường kính) ảnh hưởng của từng pixel trong hình ảnh, tức là những pixel trong phạm vi thông số này sẽ được “gom” lại đồng nhất theo tông màu của mảng. Thông số càng lớn, hoạt động “gom” càng mạnh. Độ Radius dao động từ 0,1 đến 1000. Nhưng thực tế, chúng ta chỉ thường sử dụng trong khoảng 10 – 50 là được. Thông số quá cao, hình ảnh sẽ bị sai màu.

Sau khi áp High Pass, ta đổi chế độ hòa trộn là Overlay và giảm Opacity xuống còn 48% để hạn chế độ “gắt” của các mảng màu.

Sự hòa trộn giữa hình gốc và hình đã áp High Pass, ta có kết quả trông có vẻ rõ hơn.

Hình trên là kết quả do tôi đã đặt Radius = 950 pixels, không hòa trộn với hình gốc, nên màu sắc của hình bị xỉn xuống, tím lịm và tối hơn, cũng không tạo cảm giác rõ nét hơn so với hình gốc.

Bộ Lọc Filter Vanishing Point Trong Photoshop (Phần 2)

Làm việc với Vanishing Point:

Mẹo: Giữ kèm phím Ctrl trong lúc drag chuột tại các điểm neo nằm giữa của các cạnh để mở rộng (tạo thêm) 1 mặt phẳng có phối cảnh vuông góc với cạnh đó. Mặt phẳng mở rộng này không tách rời với mặt phẳng gốc và cạnh được mở rộng bị vô hiệu hóa, thay vào đó, nó trở thành cạnh của mặt phẳng mở rộng, có thể tiếp tục mở rộng hoặc dừng lại.

Mặt phẳng khép kin được tạo xong, công cụ Edit Plan Tool sẽ được chọn để tùy chỉnh mặt phẳng. Drag chuột tại các điểm neo để thay đổi vị trí của chúng hoặc scale các cạnh giới hạn nhằm thu nhỏ / phóng to / làm biến dạng mặt phẳng.

Khác với những tính năng mà chúng ta đã tìm hiểu ở các bài viết trước, giao diện Vanishing Point nhìn đơn giản thế nhưng cách áp dụng lại khá đa dạng.

Làm việc với vùng chọn trong Vanishing Point:

Bài này khá nhiều thuật ngữ nhập nhằng nên trước khi đọc tiếp, hãy xác định rằng bạn đã phân biệt được cách nói của Homa:

“mặt phẳng” : cái giới hạn trong 4 điểm được tạo ra từ Create Plane Tool.

“vùng chọn” : cái được tạo ra từ Marquee Tool, có 2 vai trò tùy trường hợp.

Tại vùng chọn, giữ kèm phím Alt trong lúc drag qua chỗ khác trên hình ảnh để “tô” nó, nói cách khác là ta đang nhân bản mẫu tô này đế áp vào vị trí khác. Vị trí này có thể là cùng mặt phẳng hoặc khác mặt phẳng.

Trường hợp 2: Homa gọi là “vùng chọn loại 2” đóng vai trò khoanh vùng xác định khu vực cần tô để lấy mẫu tô khác tô vào. Nó ngược lại với loại 1.

Giữ kèm phím Ctrl trong lúc drag chuột qua chỗ khác để lấp đầy vùng chọn bằng khu vực tương ứng trên hình ảnh. Khu vực này có thể là cùng mặt phẳng hoặc khác mặt phẳng.

Chúng ta cũng có thể thu phóng, lật ngược hoặc xoay vùng chọn đó bằng Transform Tool (T), để phù hợp với vị trí theo cách ta muốn.

Một vùng chọn từ mặt phẳng này hoàn toàn có thể áp lên mặt phẳng khác, bằng cách tại Marquee Tool, sau khi tạo vùng chọn, trực tiếp drag chuột để di chuyển vùng chọn đó tương ứng lên mặt phẳng khác. Hoặc để copy thì nhấn giữ phím Alt trong lúc drag chuột…

hoặc nhấn giữ Ctrl để tô vùng chọn đó bằng một mẫu khác như thao tác đã nói trên.

Đến bài này thì Homa nghĩ các bạn không còn lạ gì với Brush và Eyedropper Tool nữa nên chúng ta sẽ không phân tích nó mà đi đến Stamp Tool – bạn hẳn đã gặp tool này trong nhóm các công cụ phục chế ảnh mà Homasg đã giới thiệu trước đây.

Công dụng và cách hoạt động cũng tương tự như Stamp Tool của giao diện chính. Sau khi thiết lập thông số về kích thước, độ sắc nét, độ mờ đục… như đã nói đến trong phần 1.

Này hiệu quả với những vùng/ chi tiết nhỏ nhỏ, ví dụ như xóa cái rãnh trên vách tường thế này.

Apriezt Blogger: Làm Nét Hình Ảnh Với High Pass Filter

Đây là hình đã được làm nét với bộ lọc High Pass:

Kết quả cuối cùng Chúng ta hãy bắt đầu! Bước 1: Nhân đôi layer background Điều đầu tiên chúng ta cần làm là nhân đôi layer Background, vì vậy tôi sẽ làm điều đó bằng cách sử dụng phím tắt nhanh chóng Ctrl + J (Win) / Command + J (Mac). Tôi có thể thấy trong layer palette bây giờ mà tôi có Background ban đầu của tôi ở phía dưới, trong đó có thông tin điểm ảnh ban đầu, và bản sao của nó, mà Photoshop sẽ tự động đặt tên “Layer 1”, phía trên:

Nhấn “Ctrl + J” (Win) / “Ctrl + J” (Mac) để nhân đôi layer Background. Bước 2: Thay đổi chức năng Blend Mode của layer mới qua “Overlay” Tiếp theo, chúng ta cần phải thay chức năng Blend Mode của layer mới từ “Normal” qua “Overlay”. Lý do là bộ lọc High Pass sẽ biến tất cả các khu vực không góc cạnh của hình ảnh thành màu xám trung tính, và các chức năng Overlay không tác động đến những khu vực màu xám, có nghĩa là sự làm nét sẽ không áp dụng cho bất kỳ nơi nào của những khu vực này. Vì vậy, để làm điều đó, đi đến các tùy chọn chức năng Blend Mode ở góc trên bên trái của hộp thoại Layer Styles, nhấn vào mũi tên xuống chỉ ngón để các bên phải của từ “Normal”, và chọn Overlay từ danh sách:

Thay đổi chế độ hòa trộn của lớp trùng lặp từ “bình thường” để “Overlay”. Hình ảnh của bạn sẽ trở nên rất tương phản, như chúng ta có thể thấy ở đây:

Thay đổi chế độ hòa trộn thành “Overlay” làm cho hình ảnh xuất hiện với quá nhiều tương phản. Bạn đừng lo lắng, đó chỉ là tạm thời. Bạn đang thay đổi chức năng blend mode nên bạn có thể nhìn thấy một bản xem trước của cách làm nét mà bạn đang áp dụng với bộ lọc High Pass, mà chúng ta sẽ làm gì tiếp theo. Bước 3: Áp dụng bộ lọc “High Pass” Để nhân đôi Layer Bây giờ chúng ta có chức năng blend mode sang Overlay, nó sẽ cho phép chúng ta nhìn thấy một bản xem trước của những gì mà bạn đang làm, bạn có thể áp dụng bộ lọc High Pass. Để làm điều đó, bạn hãy bấm lên Filter menu ở phía trên cùng của màn hình, chọn Other ở phía gần cuối, và sau đó chọn High Pass. Điều này mở ra hộp thoại của bộ lọc High Pass:

Hình sau khi làm nét với bộ lọc High Pass với giá trị Radius là 1.2 pixels. Nếu bạn đang làm nét trên một hình ảnh lớn hơn, bạn có thể sẽ kết thúc bằng cách sử dụng một giá trị bán kính cao hơn, nhưng một lần nữa, không nên đi quá xa. Giá trị pixel thấp hơn sẽ làm hình bạn đẹp hơn. Có một vài điều chúng ta có thể làm bây giờ để tinh chỉnh độ sắc nét, mà bạn sẽ xem xét tiếp theo. Bước 4: Thay đổi chế độ hòa trộn để “Soft Light” hoặc “Hard Light” Nếu cần thiết để điều chỉnh nét Bây giờ chúng ta đã áp dụng làm nét với bộ lọc High Pass, một trong những cách chúng ta có thể tinh chỉnh nó bằng cách thay đổi chức năng blend mode của layer 1 (duplicated Background). Ngay bây giờ, bạn đang sử dụng “Overlay”, được dùng như sự làm nét trung bình. Nếu bạn muốn tăng thêm sắc nét, thì trở lại blend mode ở góc trên bên trái của Layer Palette, nhấn vào mũi tên xuống chỉ vào bên phải của từ “Overlay” và thay đổi blend mode qua Hard Light:

Thay đổi blend mode của Layer 1 sang “Hard Light” để làm nét mạnh hơn. Nếu bạn muốn giảm độ sắc nét, thay đổi blend mode từ “Overlay” sang “Soft Light”, một lần nữa bằng cách nhấn vào mũi tên trỏ xuống ở phía trên bên trái của Layer Palette và chọn “Soft Light” từ danh sách:

Thay đổi chế độ hòa trộn thành “Soft Light” để làm giảm độ sắc nét. Để so sánh, đây là cùng một hình ảnh sử dụng tất cả ba blend mode để điều chỉnh độ sắc nét. Hình ảnh bên trái được sử dụng Soft Light, là ở giữa đã được thiết lập để Overlay, và một bên phải được thiết lập để Hard Light:

Một so sánh của ba chế độ lựa chọn sự pha trộn để sử dụng khi làm nét với bộ lọc High Pass. Soft Light là bên trái, Overlay là ở trung tâm, và Hard Light là bên phải. Sự khác biệt có thể không được dễ dàng nhìn thấy trên màn hình của bạn với những hình có độ phân giải thấp, nhưng nếu bạn đang làm việc trên hình ảnh lớn hơn, sự khác biệt giữa ba chế độ pha trộn sẽ được rõ ràng hơn. Bước 5: Giảm độ nét bằng cách hạ thấp Layer Opacity Một cách đơn giản để tinh chỉnh độ sắc nét là bằng cách điều chỉnh giá trị Opacity cho Layer 1. Giảm giá trị Opacity sẽ làm giảm lượng sắc nét. Bạn sẽ tìm thấy các tùy chọn Opacity ở góc trên bên phải của Layer Palette, ngay bên cạnh các tùy chọn blending mode. Bạn thử chọn blend mode cho hình là Hard Light và sau đó giảm Opacity của layer xuống 80%:

Giảm giá trị Opacity của lớp để giảm số lượng sắc nét. Ở đây, sau khi giảm Opacity, là kết quả cuối cùng của hình:

Kết quả cuối cùng. Và bạn đã có nó! Được viết bởi Steve Patterson. Trích dịch từ chúng tôi

Cách Sử Dụng Filter Trong Photoshop

Box Blur: Box Blur là một dạng làm nhòe ảnh dựa theo giá trị màu trung bình của các pixel xung quanh, rất hữu ích cho việc tạo ra các hiệu ứng đặc biệt. Có thể hiệu chỉnh độ nhòe bằng cách tăng giảm kích thước vùng màu trung bình của các pixel.

Gaussian Blur: Nhanh chóng làm nhòe vùng chọn theo mức độ có thể điều chỉnh. Giá trị Radius càng cao thì mức độ nhòe càng mạnh. Box Blur và Gaussian Blur nhìn qua rất khó phân biệt nhưng nếu bạn tăng mức độ Blur từ từ thì sẽ thấy: Box Blur làm mờ hình ảnh từ các biên màu, còn Gaussian Blur thì làm mờ theo kiểu đồng dạng hóa các màu sắc cạnh nhau.

Lens Blur: Lens Blur bổ xung độ nhòe vào hình ảnh để tạo ra hiệu ứng cho một vùng có chiều sâu hẹp hơn, vì thế một vài đối tượng trên hình ảnh thì tập trung, còn các vùng khác thì nhòe xung quanh. Lệnh này giống như ứng dụng lấy nét của máy ảnh kỹ thuật số hoặc camera của smart phone.

Motion Blur: Làm nhòe theo hướng cụ thể từ -360 độ đến +360 độ và cường độ xác định từ 1 – 999. Hiệu ứng của bộ lọc này như chụp ảnh đối tượng đang chuyển động.

Radial Blur: Đây là một hiệu ứng rất mạnh. Làm nhòe một cách đa dạng và phong phú hơn theo hướng nan hoa, tỏa tia.

Shape Blur: Hiệu ứng Shape Blur cho phép làm nhòe theo một hình shape được chỉ định.

Shape này chỉ áp lên từng pixel nên dù chọn blur theo hình nào thì sự khác biệt đều không rõ ràng để ta thấy được.

Smart Blur: Làm nhòe chính xác hình ảnh. Làm nhiệm vụ tinh lọc các mảng màu. Nó chuyển hóa hình ảnh về dạng đơn giản của các pixel màu, nói ngắn gọn là đơn sắc hóa các mảng hình ảnh, biến hình chụp sau khi chuyển có dạng như tranh vẽ màu nước.

Surface Blur: Hiệu ứng Surface Blur cho phép làm nhòe, tạo bề mặt mịn, trơn nhẵn, gỡ bỏ các hạt chấm chấm mà vẫn bảo toàn chi tiết các cạnh.

Polar Coordinates: Chuyển vùng chọn từ tọa độ vuông góc sang tọa độ cực và ngược lại.

Ripple: Tạo hiệu ứng gợn sóng lăn tăn trên vùng chọn hoặc toàn hình ảnh.

Shear: Làm biến dạng hình ảnh dọc theo đường cong.

Spherize: Biến dạng hình ảnh theo khối cầu, phạm vi tỏa ra từ tâm đến cạnh biên của toàn vùng chọn/ hình ảnh, không giống như lệnh Pinch – chỉ tác động 1 vùng nhỏ tính từ tâm tỏa ra.

Twirl: Xoáy hình ảnh mạnh dần về phía tâm. Hiệu ứng này giúp tạo ra những background độc đáo.

Wave: Tạo gợn sóng mạnh.

3 – Noise: Là một nhóm các bộ lọc có chức năng chính là điều chỉnh các pixel trên hình ảnh bị hạt, tạo hạt hoặc khử hạt.

Add Noise: Bộ lọc Add Noise có chức năng tạo hạt cho hình ảnh, làm hình ảnh trông như tranh cát hoặc giả lập độ mịn, độ nét…

Despeckle: Bộ lọc Despeckle phát hiện phần bị hạt giữa các mảng khác màu giao nhau và làm mờ nó đi để giảm nhiễu hạt, nhưng vẫn giữa lại độ nét trung bình cho các chi tiết của tổng thể. Do Despeckle không có bất cứ tùy chọn gì nên nó vô tình “bào nhẵn” luôn cả nền và viền của chi tiết (dù không nhiều).

Dust & Scratches: lọc giảm nhiễu hạt trực quan bằng cách thay đổi các điểm ảnh liền kề nhau bằng các điểm màu chiếm đa số trong mảng đó.

Median: Bộ lọc Median gom các điểm ảnh có độ sáng và màu sắc tương đồng nhau thành từng mảng đồng nhất, giúp loại bỏ hoặc làm giảm sự xuất hiện của các điểm ảnh bị nhiễu hoặc những đốm màu không mong muốn.

Reduce Noise: Bộ lọc này hỗ trợ giảm nhiễu hạt màu sắc và nhiễu hạt độ sáng, với hệ thống điều chỉnh 2 tầng: Basic và Advanced.

Color Halftone: đưa ảnh về dạng pixel dạng tròn.

Crystalize: Bộ lọc này phân mảnh hình ảnh thành những pixel có dạng đa giác (ngẫu nhiên) xếp khít (sát cạnh) nhau.

Facet: Trên lý thuyết, bộ lọc Facet tạo một lớp như các khối màu đặc. Bạn có thể sử dụng bộ lọc này để làm một hình ảnh trông như quét sơn bằng tay hoặc một bức tranh trừu tượng. Hãy đưa hình ảnh về độ phân giải thấp và thử dùng bộ lọc này bạn sẽ thấy kết quả.

Fragment: Hình ảnh sau khi áp bộ lọc Fragment thì trông hơi mờ đục và tinh mịn, mục đích triệt tiêu độ sắc cạnh của các pixel.

Mezzotint: đưa mỗi pixel về màu cơ bản theo dạng Dot, Line, Stroke.

Mosaic: phân mảng hình ảnh thành những hình vuông đơn sắc.

Pointillize: Tương tự như cách hoạt động cua các bộ lọc trên, bộ lọc Pointillize phân mảng hình ảnh thành các điểm ngẫu nhiên, bắt dính cũng ngẫu nhiên tạo cảm giác như các điểm màu đang trôi nổi trên trang làm việc.

Clouds: Tạo mây bằng cách dùng các giá trị ngẫu nhiên biến đổi giữa màu foreground và background.

Difference Clouds: Vẫn là hiệu ứng Clouds trên nhưng kết hợp với chế độ hòa trộn Difference. Cũng không có thêm tùy chọn nào, kết quả cũng ngẫu nhiên, vì là Difference nên màu sắc kết quả có xu hướng sậm màu hơn so với màu foreground và background.

Fibers: Lệnh Fibers kết hợp màu foreground và background để giả lập các dạng chất liệu sợi, bố,…được kết thành từng thớ liên tục.

Lighting Effects: Bộ lọc Lighting Effects cho phép bạn hiệu chỉnh kiểu chiếu sáng, loại nguồn sáng, thuộc tính chiếu sáng và kênh chứa mẫu kết cấu.

Sharpen: Làm sắc nét hình ảnh cơ bản, chế độ tự động, áp dụng chung cho cả hình ảnh, không có chọn lọc và cũng không cung cấp bất cứ tùy chọn nào.

Sharpen Edges: Tương tự như Sharpen, nhưng tập trung nhiều vào nét viền, đường biên đối tượng trong ảnh, cũng tự động và không có tùy chọn nào khác.

Sharpen More: Mỗi lần áp dụng là mỗi lần tăng Sharpen lên 1 bậc.

Smart Sharpen: Bộ lọc làm sắc thông minh này có 2 chế độ: Basic (cơ bản) và Advanced (chuyên sâu).

– Amount: mức độ làm sắc cạnh. Các pixel mang màu sắc trung gian được tạo ra nên nếu Amount càng lớn thì các pixel càng dày đặc, sự khác biệt so với ảnh gốc càng rõ ràng.

– Radius: Độ xoay hay vát sắc cạnh của pixel. Thông số này tốt nhất đừng vượt quá 5px.

– Remove: giúp loại bỏ các yếu tố gây nhiễu như: Gaussian Blur, Lens Blur, Motion Blur (chỉ có Motion Blur là áp dụng được độ Angle bên dưới nó)

– More Accurate: độ sắc cạnh được chính xác hơn, đồng nghĩa sẽ bị răng cưa nhiều hơn, nên nếu bạn đã cho thông số Radius cao và áp dụng Remove thì không nên chọn cái này.

Thẻ Shadow (áp dụng cho vùng tối màu) và Highlight (áp dụng cho phần sáng màu)

– Fade Amount: độ “phai” của mảng màu sáng/ tối. Các pixel trung gian mang màu sát với tông sáng/ tối chủ đạo hơn, nên dù có tăng thông số này lên thì cũng thay đổi không nhiều, nhưng hình ảnh trông sẽ mượt hơn, không quá gắt như Amount của Basic.

– Tonal Width: độ trải của màu sáng/ tối chủ đạo.

– Radius: độ chênh lệch giữa các mảng pixel.

Unsharp Mask: chế độ làm sắc mạnh hơn Smart Sharpen. Thông số Amount và Radius giống như trên, nhưng vì bộ lọc này chỉ “mạnh” chứ không có nhiều tùy chọn “sâu” như Smart Sharpen nên việc nhiễu răng cưa là không thể tránh. Nhờ có tùy chọn Threshold, khử răng cưa do 2 thông số trên tạo ra, “mài nhẵn” các vùng nhiễu hạt hay tán sắc. Threshold có thể dao động từ 0 đến 255 levels, nhưng khi Radius < 10, Threshold sẽ mất tác dụng nếu thông số vượt quá 100.

7 – Stylize Diffuse: Xáo trộn, phân tán các điểm ảnh gần nhau khiến cho vùng chọn bớt sắc nét.

Embos: Khiến cho vùng chọn có vẻ nổi lên hoặc lõm xuống bằng cách chuyển dạng màu tô thành màu xám và đồ lại các cạnh bằng màu tô nguyên thủy theo sắc độ trắng – đen.

Extrude: Tạo nên các hình khối lập phương hoặc kim tử tháp trên hình ảnh ban đầu, trông như hiệu ứng vụ nổ phân mảnh đều. Tuy nhiên, nó vẫn bảo toàn được màu sắc của ảnh.

Find Edges: Đồng nhất hình ảnh bằng nền trắng, căn cứ vào độ chênh lệch chuyển tiếp từ các vùng màu tối và màu sáng để xác định viền và làm nổi bật viền bằng màu tối hơn. Những viền càng đậm, càng rõ ràng tức là vị trí tại đó có độ chênh lệch màu sắc giữa sáng tối càng lớn.

Solarize: Pha trộn một ảnh âm bản với một ảnh dương bản tương tự như khi một bản in đang được phơi sáng. Tiles: Phân mảng hình ảnh thành một loạt những mảnh ghép và dịch chuyển chúng lệch đi (ngẫu nhiên) một chút. Trace Contour: Tìm những sự chuyển tiếp giữa các khu vực sáng nhất và vẽ nét viền mảnh lên đó bằng các kênh màu khác nhau.

– Vị trí có độ tương phản sáng – tối càng cao thì màu tại đó càng đậm.

– Màu sắc của viền tuy nói là theo kênh màu nhưng thực tế là mang màu tương phản với màu của hình ảnh gốc. Wind: Tạo ra các vạch ngang rất nhỏ trên ảnh để giả lặp hiệu ứng gió tạt.

8. Other Custom: Mặc dù tên gọi là “tùy biến” nhưng thực chất ta chỉ tác động lên độ sáng/ tối của hình ảnh bằng cách áp cho khu vực tại đó 1 con số cụ thể.

Cơ chế hoạt động: hình ảnh được (giả lập) phân chia thành 25 ô (gọi là khu vực “ma trận”) như trong cửa sổ tùy chọn. Nếu muốn vùng nào đó trên hình ảnh sáng hơn thì điền tại ô đó 1 con số dương, muốn vùng đó tối hơn thì điền 1 con số âm. Số càng lớn thì vị trí đó trên hình sẽ càng sáng/ tối. Con số sử dụng trong khoảng từ -999 đến 999, hiệu ứng phản sáng rất mạnh nên hầu như ta chỉ sử dụng trong khoảng -50 đến 50. Những ô liền kề nhau, thuộc những mảng màu gần gần giống nhau (tương đồng sắc độ) thì độ chính xác của những ô số sẽ không cao. Chúng ta không cần phải điền số vào hết tất cả các ô.

– Scale: độ tản sáng của các điểm ảnh. Scale dao động từ 1 đến 9999. Khi Scale = 1, các điểm ảnh sẽ ở mức sáng cực đại của thông số đã nhập vào ma trận. Bởi vậy khi ma trận chứa những con số càng lớn thì hình ảnh bị cháy sáng càng gắt, bị vỡ hạt, thậm chí các nét trong hình bị lệch biên. Khi tăng Scale = 2, độ sáng của các điểm ảnh được chia đôi, cứ thế, càng tăng scale thì độ sáng càng giảm theo hệ nhị phân.

– Offset: độ bù màu cho Scale. Nếu Scale chỉ nhắm vào việc khuếch trương độ sáng cho những điểm ảnh tại những vùng được điền số trong ma trận, thì Offset sẽ giữ lại màu sắc của hình ảnh và tán sáng đều ra cho toàn hình ảnh. Offset hiệu quả hơn khi thông số lớn hơn Scale trong khoảng từ 1 đến 40 đơn vị. Vượt ngoài khoảng này, hình ảnh sẽ bị mờ hoặc mất màu.

Điều tuyệt vời của bộ lọc Custom này là hình ảnh trông sẽ nét hơn khi bạn áp dụng hài hòa những thông số trong ma trận, Scale và Offset.

Ngoài ra, Custom còn cho phép Save lại tùy chỉnh như 1 dạng mẫu để những lần sau có thể Load lên dùng tiếp. Maximum: Bộ lọc Maximum nhận dạng và khuếch trương phạm vi ảnh hưởng của những pixel mang độ sáng cao nhất từ rộng dần đến cực đại.

Minimum: Nếu Maximum tập trung vào những điểm sáng thì Minimum lại tập trung khuếch trương những điểm tối, và tương tự, Radius của nó cũng rất mạnh.

Offset: Đúng như tên gọi: Offset (bù vào), bộ lọc này căn cứ vào tọa độ, chi tiết, màu sắc đường biên của hình (hoặc vùng chọn) để bù vào khoảng trống được tạo ra do di chuyển tọa độ hình gốc mà ta đã đặt cho các thông số.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bộ Lọc Filter Other Trong Photoshop (Phần 1: Custom Và High Pass) trên website Utly.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!